Showing posts with label Finance. Show all posts
Showing posts with label Finance. Show all posts

THỦ THUẬT TÀI CHÍNH CỦA DN: LỢI NHUẬN NHỎ VÀ CHIẾN LƯỢC BIG BATH

Minh Tran

Báo cáo tài chính của một công ty phát hành nhằm phản ánh tình hình hoạt động của mình. Báo cáo này nhằm phục vụ cho nhiều bên liên quan khác nhau. Trong đó, có một mục tiêu quan trọng mà một công ty nhắm tới khi phát hành BCTC. Đó là sử dụng BCTC như một công cụ chứng minh sự tăng trưởng/mức độ ăn nên làm ra của công ty mình nhằm 2 mục đích lớn nhất là đi vay với lãi suất thấp và nâng cao giá trị cổ phiếu của công ty mình. Đó là những lúc công ty làm ăn thuận lợi, thế còn những lúc làm ăn khó khăn? Thì lúc đó, số liệu thật trong BCTC lại là một nhát dao chí mạng: bị ngân hàng cho vay với một lãi suất cực cao cũng như giá cổ phiếu của công ty bị rớt giá thảm hại,... Nhằm không để tình trạng đó xảy ra, một số công ty “chiêu trò” sẽ dùng những thủ thuật để “xào nấu” số liệu của mình. Nghe có vẻ như gian dối và phạm luật nhưng tất nhiên, khi nó đã được gọi là thủ thuật thì nó không được gọi là gian dối và phạm luật nữa.

Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (Securities and Exchange Commission - SEC). Nguồn ảnh: Internet

Bài viết sau đây được blog trình bày lại dựa trên bài viết gốc “Lợi nhuận nhỏ và chiến lược Big Bath” của Martin Fridson – Chuyên gia chiến lược tín dụng toàn cầu của công ty BNP Paribas Investment Partners và Fernando Alvarez – Tiến sỹ của ĐH New York, hiện là giáo viên thỉnh giảng về Tài chính và Kinh tế học tại ĐH Columbia (Mỹ), ngôi trường của nhà tỷ phú giàu thứ 2 thế giới Warren Buffett (chỉ sau Bill Gates) cũng như cựu tổng thống thứ 44 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - ông Barack Obama.

Thủ thuật “Lợi nhuận nhỏ”
Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch (Securities and Exchange Commission) và Hội đồng chuẩn mực Kế toán Tài chính (Financial Accounting Standards Board - FASB) của Mỹ cấm các công ty đánh bóng tô vẽ lợi nhuận quá nhiều để làm tăng giá cổ phiếu của công ty mình. Tuy nhiên, những người làm luật lại không quy định rõ: thế nào thì được gọi là “quá nhiều”? Và tất nhiên, các công ty có thể sử dụng lỗ hỏng này để điều chỉnh mức độ mà họ phải tiết lộ các con số trên báo cáo tài chính vì rõ ràng những thông tin xấu từ những con số có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự đánh giá của thị trường chứng khoán. Đối với một số người, nguyên tắc công bố thông tin là nếu không có ai hỏi thì việc giảm sự tự nguyện khi công bố thông tin thì không được xem là gian dối.
Một nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi nhà kinh tế học của Harvard – Richard Zeckauser đã thu thập bằng chứng về sự lan rộng của việc thiếu trung thực. Nghiên cứu tập trung vào những trường hợp lợi nhuận báo cáo hàng quý của công ty chỉ (1) cao hơn hoặc (2) thấp hơn một chút so với kỳ trước.
Giả định rằng báo cáo tài chính được lập theo mục tiêu lý tưởng là phản ánh chính xác tình hình hoạt động của công ty. Theo luật xác suất, báo cáo hàng quý của công ty phải bao gồm biến cố “lợi nhuận cao hơn kì trước trong năm” và biến cố “lợi nhuận thấp hơn một chút so với kì trước trong năm”. Zeckauser và cộng sự của mình phát hiện ra, rằng đa số các công ty có xu hướng báo cáo sự tăng trưởng lợi nhuận nhỏ, nhiều hơn là ghi nhận sự sụt giảm nhỏ. Điều này cho thấy, rõ ràng là khi công ty có nguy cơ phải trình bày những so sánh sụt giảm nhỏ trong lợi nhuận, thì công ty sẽ sắp xếp những khoản mục tuỳ nghi (*) để ép ra được kết quả tăng trưởng biên.

Chiến lược “Big Bath”
Giả sử một công ty gánh chịu một khoản lỗ hàng quý quá lớn đến nỗi nó không thể dùng chiêu trò “khoản mục tuỳ nghi” để xoá đi được thì nó sẽ dùng chiến thuật “Big Bath” (taking a big bath saving for rainy days) bằng cách tối đa hoá thiệt hại được báo cáo trong quý đó. Lý do là khi lợi nhuận giảm 30% với khi giảm 20% thì mức độ lo lắng của nhà đầu tư cũng không chênh lệch hơn là mấy. Do đó, nhà quản lý (CEO, CFO,…) sẽ cảm thấy có lợi hơn nếu đẩy các khoản chi phí trong tương lai sang quý hiện tại và kết quả là có thể đảm bảo cho một con số lợi nhuận dương trên báo cáo của kỳ tiếp theo dù cho có lỗ. Đây có thể nói là thời điểm thuận lợi để để ghi nhận các khoản lỗ dài hạn trong giá trị tài sản, chẳng hạn như máy móc sản xuất lỗi thời và lợi thế thương mại (goodwill) (**) hình thành từ những vụ mua lại không thành công trong quá khứ. Trên thực tế, các công ty có thể ghi giảm giá các tài sản trên với con số lớn hơn con số mà theo nguyên tắc chính xác trong kế toán. Việc đảo ngược các khoản ghi nhận quá lố như vậy là một công cụ làm ổn định lợi nhuận các kỳ sau đó.
Zeckauser và cộng sự của ông đã chứng thực cho giả thuyết “Big Bath” khi chỉ ra rằng lợi nhuận sụt giảm sâu thường có xác suất xảy ra nhiều hơn là tăng mạnh. Điều đó chứng tỏ các nhà quản lý không bị động mà có sự can thiệp vào việc tính toán lợi nhuận bằng cách lợi dụng các khoảng cách của các quy định kế toán. Cảm tưởng chung của các nhà nghiên cứu là các công ty xem báo cáo tài chính là một kỹ thuật để yểm trợ cho giá cổ phiếu hơn là một công cụ để phổ biến thông tin khách quan cho các bên liên quan.
Nếu như những chiêu trò “nâng lợi nhuận, giảm lỗ” này có thể thoát khỏi sự phát hiện của nhà đầu tư và cho vay thì lợi ích mà công ty đạt được là rất lớn. Ví dụ, việc tiết kiệm chi phí lãi vay ở mức 0.5% trên tổng mức vay 1 tỷ USD tương đương tới 5 triệu USD (trước thuế) mỗi năm.


Giải thích thuật ngữ
(*) Khoản mục tuỳ nghi: khoản mục được điều chỉnh theo ý muốn của DN nhưng xét về luật thì vẫn đúng luật.

(**) [Saga] Lợi thế thương mại (Goodwill) được xem như một tài sản vô hình trong bản cân đối kế toán bởi vì nó không phải một tài sản thực tế như nhà xưởng hay trang thiết bị. Lợi thế thương mại thường phản ánh giá trị của tài sản vô hình như thương hiệu mạnh, mối quan hệ tốt với khách hàng,  mối quan hệ tốt với nhân viên hoặc bất cứ bằng sáng chế hay công nghệ phù hợp nào.

Hiểu đơn giản thì lợi thế thương mại là phần chênh lệch giữa số tiền mà một doanh nghiệp bỏ ra để mua một doanh nghiệp khác với giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp được mua.

Ví dụ: Giả sử bây giờ Microsoft mua lại FPT với giá 1 tỷ USD. Toàn bộ giá trị tài sản hiện có của FPT là 500 triệu USD (cộng tất cả các loại nhà cửa, ô tô, máy tính, động sản, bất động sản (có thể bao gồm cả giá trị thương hiệu của FPT hiện đang phản ánh trên BCTC (nếu có),...), giá trị các khoản nợ của FPT là 100 triệu USD. Như vậy giá trị tài sản thuần của FPT là 400 triệu USD. Khoản chênh lệch giữa giá mà Microsoft bỏ ra mua FPT và giá trị tài sản thuần là 600 triệu USD, đó chính là lợi thế thương mại.


BÁO CÁO TÀI CHÍNH DƯỚI LĂNG KÍNH PHÂN TÍCH

Minh Tran

Báo cáo tài chính (financial statements) là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định.



1. Phân tích quá khứ để đánh giá tương lai 
Báo cáo tài chính có nhiều chức năng khác nhau nhưng ở đây, blog xin trình bày chức năng cơ bản đứng trên góc độ phân tích tài chính: báo cáo tài chính đóng vai trò như một minh chứng đánh giá kết quả doanh nghiệp trong quá khứ, từ minh chứng đó, ta có cơ sở để dự báo khả năng hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp đó trong tương lai. Ví dụ: Nếu bạn là một ngân hàng và công việc của bạn là cho một doanh nghiệp vay vốn. Khi đó, bạn sẽ đọc báo cáo tài chính của doanh nghiệp đó để dự báo tình hình, xem xét trong tương lai, liệu rằng doanh nghiệp đó có khả năng trả nợ hay không. Còn nếu bạn đứng ở góc độ là một công ty quỹ đầu tư, bạn sẽ xem xét quá khứ của công ty mà bạn muốn đầu tư đó trong quá khứ, xem rằng nó tốt hay không tốt. Nếu tốt thì tương lai còn tốt nữa hay không hay nếu không tốt thì liệu tương lai doanh nghiệp đó có cải thiện hay không. Lấy hai trường hợp sau, trường hợp 1 (bảng 1) là thông tin từ báo cáo tài chính của công ty điện lực Việt Nam (EVN), trường hợp 2 (bảng 2) là của công ty bất động sản Đất Xanh.
Tại bảng 1, ta thấy doanh thu và lợi nhuận của công ty qua các năm ít biến động vì điện là mặt hàng mà ta luôn sử dụng cố định hàng năm, hầu như ít biến động theo chu kỳ của nền kinh tế. Mặt khác, EVN là công ty cung cấp điện độc quyền tại Việt Nam. Như vậy, trong tương lai, ta có thể đoán được doanh thu và lợi nhuận của EVN cũng sẽ ít biến động.

Ngược lại là trường hợp của bất động sản Đất Xanh tại bảng 2, ta thấy doanh thu và lợi nhuận biến động rất nhiều, nó tăng giảm không theo một quy luật nào cả. Do đó, việc dự báo cho một công ty bất động sản là rất khó và báo cáo tài chính của nó trong quá khứ được xem như là một điểm tham chiếu rất yếu. 

2. Phân loại báo cáo tài chính 
Có 3 tiêu chí để phân loại một báo cáo tài chính. Mỗi tiêu chí ta có những cách phân loại khác nhau. 

Nếu theo tiêu chí là nội dung phản ánh của thông tin thì ta có 4 cách phân loại: Bảng cân đối kế toán (balance sheet), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (income statement), báo cáo lưu chuyển tiền tệ (cash flow statement) và bảng thuyết minh báo cáo tài chính (note to financial statements) 

Nếu theo tiêu chí là thời gian lập báo cáo tài chính thì ta có 2 loại: báo cáo năm (annual financial statements) và báo cáo giữa niên độ (interim financial statements). Báo cáo năm là báo cáo được lập và phát hành sau khi năm tài chính kết thúc. Còn báo cáo tài chính giữa niên độ thì được lập và phát hành sau mỗi quý. 

Nếu theo tiêu chí là phạm vi hoạt động thì ta có báo cáo tài chính riêng (nội dung chỉ phản ánh công ty mẹ) và báo cáo tài chính hợp nhất (nội dung phản ánh cả công ty mẹ và công ty con).


Để xem chi tiết các thành phần của Báo cáo tài chính, vui lòng chọn các bài viết dưới đây:
1. Bảng cân đối kế toán
2. Bảng kết quả hoạt động kinh doanh
3. Bảng lưu chuyển tiền tệ

BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ

Minh Tran
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement) nhằm vào mục tiêu quan trọng nhất là cung cấp thông tin về các khoản thu/chi tiền của một DN trong suốt một thời kỳ nhất định.

Trích từ báo cáo tài chính hợp nhất của Viettel Global Qúy 1 2018

A. Khái quát:
Như ta đã biết ở bài trước, Lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BC KQ HĐKD) là một đại lượng kế toán và nó hoàn toàn có thể bị hiểu sai lệch. Vd: Bạn tạo ra lợi nhuận là 500 triệu nhưng không có nghĩa năm đó, bạn có nhiều hơn 500 triệu. Vì sao?

Lợi nhuận khác với dòng tiền tạo ra thêm được vì doanh thu của DN không bằng với dòng tiền mà DN nhận được trong kỳ. Vd: Khi DN bạn "bán chịu" hàng hóa thì trên BC KQ HĐKD có ghi nhận doanh thu vào mục "khoản phải thu". Và tất nhiên, nó cũng được ghi nhận vào mục lợi nhuận. Nhưng thật sự mà nói thì DN vẫn chưa nắm trong tay được số tiền đó. Trong trường hợp xấu nhất, khoản tiền này có thể bị mất vĩnh viễn do khách hàng mà DN "bán chịu" không trả. Như vậy, DN có lợi nhuận nhưng chưa hẳn là có tiền. 

Ở một khía cạnh khác, dòng tiền chi ra của DN có thể lớn hơn chi phí của DN đươc ghi nhận trên BC KQ HĐKD. Vd: Khi bạn nhập một lượng lớn hàng tồn kho A về và chỉ có một phần trong lượng hàng tồn kho A đó, gọi là A', A' ⊂ A (A' là con của A) đi vào sản xuất, cho ra thành phẩm và bán đi thì khi đó, A' mới được ghi nhận là chi phí trên bảng KQ HĐKD . Mặt khác, khi một lượng lớn sản phẩm không bán ra thị trường được, qua một thời gian dài bị hư hao đi thì nó không những không giúp DN phát sinh lợi nhuận mà còn làm giảm lợi nhuận của DN. 

Kế toán cơ sở & Kế toán cơ sở dồn tích
Khác với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (được lập dựa trên Kế toán cơ sở - cơ sở tiền mặt) thì Bảng cân đối kế toán và Bảng kết quả HĐ kinh doanh được lập trên "Kế toán cơ sở dồn tích". Cơ sở dồn tích là một thuật ngữ của kế toán. Cơ sở dồn tích sẽ ghi nhận các giao dịch khi có sự phát sinh chứ không ghi nhận trên thực thu/thực chi.  Cơ sở kế toán dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán DN. Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (chuẩn mực kế toán số 01, 2002).
Lợi nhuận = Thu nhập (được hưởng) - Chi phí (phát sinh). 

Kế toán trên cơ sở tiền là quá trình trong đó thu nhập và chi phí (được sử dụng để tạo nên thu nhập) theo định nghĩa là các khoản tiền thực nhận và thực trả:
Lợi nhuận = Thu nhập (tiền mặt) - Chi phí (đã thanh toán)

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo phản ánh lên yếu tố sống còn của DN
Tiền được coi là thước đo cuối cùng cho hiệu quả của một DN. Tiền được ví như mạch máu - yếu tố sống còn để nuôi sống DN, thiếu tiền thì mọi HĐ sản xuất kinh doanh của DN sẽ gặp khó khăn và nếu không tìm được nguồn tiền (nguồn tài trợ) thì DN sẽ mất  khả năng thanh toán.

Các nhà phân tích đầu tư thường bỏ qua báo cáo này vì tính khó hiểu của nó. Tuy nhiên, chính báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo phản ánh lên yếu tố sống còn của DN - đó là tiền: Tiền được tạo ra từ đâu? Tiền đang được sử dụng vào mục đích gì? Sau một thời gian hoạt động thì DN còn lại bao nhiêu tiền? Đó dường như là những câu hỏi rất cơ bản mà các cổ đông hay các ngân hàng cho vay đều rất quan tâm.

B. Các khoản mục chính:
Người ta chia dòng tiền của DN ra thành ba loại:
1. Dòng tiền hoạt động kinh doanh: phản ánh các khoản thu/chi của DN liên quan đến hoạt động kinh doanh chính của DN (khoản thu mua nguyên vật liệu, chi trả tiền lương nhân viên, khoản thu từ bán hàng,..). Đây là dòng tiền quan trọng nhất trong ba loại dòng tiền vì nó thể hiện khả năng tài chính của DN nhằm đáp ứng các như cầu mở rộng sản xuất/trả nợ,.. Các thông tin từ dòng tiền này là cơ sở quan trọng để lập kế hoạch tài chính (năm tới thu/chi như thế nào).
2. Dòng tiền hoạt động đầu tư: phản ánh các khoản đầu tư và thanh lý các khoản đầu tư tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, đầu tư vào công ty khác...), là cơ sở quan trọng để biết được công ty đang có kế hoạch mở rộng như thế nào, cách thức mở rộng ra sao. Để mở rộng, DN thường có hai cách:
+ Cách 1: Nâng cao năng lực sản xuất cốt lõi của DN thông qua đầu tư các loại tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị,..). 
+ Cách 2: Đầu tư ra các DN khác dưới dạng đầu tư tài chính.
Trong hai cách trên thì cách 1 thường tốt hơn vì khi đó, DN đang đầu tư vào nơi mà DN có khả năng quản lý rủi ro tốt nhất. Còn ở cách 2, DN đã trao quyền tự chủ của mình vào DN khác.
3. Dòng tiền hoạt động tài chính: liên quan đến việc huy động và chi trả nguồn vốn (huy động nợ vay, kêu gọi vốn chủ sở hữu góp vào,...), là khoản mục liên quan đến sự thay đổi kết cấu và quy mô của vốn vay và vốn chủ sở hữu.

C. Phân tích
1. Phân tích dòng tiền:
Các chỉ tiêu cần được xem xét:
+ Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
+ Tiền mặt sau trả nợ định kỳ
+ Dư thừa, thâm hụt tiền mặt sau đầu tư
+ Các nguồn tiền mặt được bổ sung trong kỳ: từ chủ sở hữu, từ vay
+ Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ hay tiền mặt sau hoạt động tài chính
2. Phân tích các tỷ số lưu chuyển tiền tệ
2.1. Hệ số khả năng trả tiền lãi vay: Chỉ tiêu này đo lường số lần mà dòng tiền mặt của DN có thể trả lãi tiền vay.
Hệ số khả năng trả tiền lãi vay = Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD/Lãi phải trả từ tiền vay
2.2. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này đo lường số lần mà dòng tiền mặt của DN có thể trả các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD/Nợ ngắn hạn bình quân
2.3. Hệ số khả năng thanh toán các nguồn tài trợ: 
Hệ số khả năng thanh toán các nguồn tài trợ = Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD/(Lãi phải trả từ tiền vay + Nợ ngắn hạn + Cổ tức)
2.4. Hệ số khả năng thanh toán nợ của luồng tiền thuần từ HĐKD:
Hệ số khả năng thanh toán nợ = Lưu chuyển thuần từ HĐKD/Bình quân tổng dư nợ
Thời gian trả hết nợ = Bình quân tổng dư nợ/Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD

Tài liệu tham khảo:
Phân loại lưu chuyển tiền tệ - ThS Lê Hoài Ân (CFA), Giảng viên ngành Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Ngân hàng TP. HCM.

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Minh Tran
Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet) chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của DN theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm).

A. Khái quát
Theo định nghĩa trên, ta có cấu trúc của một bảng cân đối kế toán gồm hai phần: Tài sản và Nguồn vốn.
Phần tài sản phản ánh những gì doanh nghiệp có. Trong khi, phần nguồn vốn phản ánh nguồn gốc hình thành nên tài sản đó.


Phần Tài sản (cột màu xanh dương) được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần trong khi Phần Nguồn vốn (cột màu đỏ) được sắp xếp theo tính ổn định tăng dần.
Tính thanh khoản hay tính lỏng là khả năng chuyển hóa thành tiền mặt của tài sản. Tính ổn định là thứ tự ưu tiên trả nợ của DN.


Quan hệ cân đối tổng quát của Bảng cân đối kế toán thể hiện chính là phương trình kế toán cơ bản: TÀI SẢN = NGUỒN VỐN

Bảng cân đối kế toán chỉ thể hiện giá trị ở một thời điểm nhất định: số tài sản và nguồn vốn mà doanh nghiệp đang nắm giữ tại thời điểm nắm giữ. Bảng cân đối kế toán khác Bảng kết quả hoạt động kinh doanh ở chỗ: Bảng kết quả HĐ kinh doanh thể hiện con số trong suốt một thời kỳ còn bảng cân đối kế toán chỉ thể hiện con số tại một thời điểm nhất định. Do mang tính thời điểm nên bảng cân đối kế toán mang tính đột biến và tính nhất thời rất cao.

Trong phần tài sản,
Tài sản ngắn hạn là loại tài sản có khả năng luân chuyển trong một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh. Ngược lại, tài sản dài hạn là trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh. Trong một chu kỳ kinh doanh hay trong một năm, tài sản dài hạn không thể chuyển hết toàn bộ giá trị của nó vào sản phẩm mà qua mỗi chu kỳ/mỗi năm, nó chỉ chuyển hóa một phần giá trị của mình vào sản phẩm.

Trong phần nguồn vốn, 
Nợ phải trả gồm nợ chiếm dụng (nợ không cần phải trả lãi) và nợ vay (nợ buộc phải trả lãi)
Nợ phải trả khác vốn chủ sở hữu như sau:
(3) Chi phí sử dụng là gì? Tại sao chi phí sử dụng của của vốn chủ cao hơn nợ phải trả?
Chi phí sử dụng là chi phí mà DN phải trả cho bên vay khi vay vốn. Chi phí sử dụng của của vốn chủ  cao hơn nợ phải trả (thể hiện qua cổ tức cao hơn lãi suất cho vay) do vốn chủ (hay cổ đông) chịu rủi ro cao hơn. Trên bảng kết quả kinh doanh, trước khi xác định lợi nhuận sau thuế thì trước đó, con số đã được trừ đi cho lãi vay, còn cổ đông thì chỉ nhận được cổ tức sau khi đã tính lợi nhuận sau thuế. Nghĩa là, bên cổ đông được hưởng theo lãi/lỗ của công ty (lời nhiều ăn nhiều, lời ít ăn ít) còn bên cho vay thì dù DN có lãi/lỗ thế nào, cũng phải trả một khoản tiền cố định theo lãi suất đã thỏa thuận. Trong trường hợp phá sản thì theo luật, chủ vay sẽ là người được ưu tiên thanh toán. Do đó, bên vốn chủ sở hữu (cổ đông) yêu cầu mức hiệu suất sinh lời (lãi) cao hơn bên nợ phải trả (bên cho vay).

B. Các chỉ tiêu cơ bản:
I. Tài sản
1. Tài sản ngắn hạn (Mã số 100)
1.1. Tiền và các khoản tương đương tiền (Mã số 110): phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, bao gồm: 
+ Tiền (Mã số 111): tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
+ Các khoản tương đương tiền (Mã số 112): các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ít hơn 3 tháng.
Mục này có tính thanh khoản rất cao, do đó, mục này số càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt. Tuy nhiên, dự trữ tiền mặt cao không phải lúc nào cũng tốt, khi dự trữ tiền mặt lớn làm giảm khả năng sinh lời của tiền. Thậm chí có thể sinh lời âm nếu nền kinh tế lạm phát cao.
1.2. Đầu tư tài chính ngắn hạn (Mã số 120): lãi ngân hàng, cho vay ngắn hạn, mua bán chứng khoán (với điều kiện không phải là cổ đông chiến lược của công ty mà doanh nghiệp đang nắm cổ phần, nếu là cổ đông chiến lược, hạch toán nó ở đầu tư tài chính dài hạn), dự phòng đầu tư ngắn hạn. Đặc điểm của khoản đầu tư này là thời gian trả  >= 3 tháng, nếu < 3 tháng thì nằm ở (112). 
(*) Dự phòng: là khoản dự phòng được trích lập khi đầu tư bị thua lỗ.
1.3. Các khoản phải thu ngắn hạn (Mã số 130): là các khoản mà khách hàng và các bên liên quan đang nợ doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Đặc điểm của mục này là kỳ hạn  phải <= 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Khoản này nói theo cách hiểu thông thường là khoản bán chịu. Phần lớn ngành nghề hiện nay đều sử dụng chính sách bán chịu. Bán chịu được xem như là một hình thức khuyến mãi nhằm thúc đẩy doanh thu, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, giúp xây dựng những mối quan hệ lâu dài hơn đối với đại lý/khách hàng. Tuy nhiên, bán chịu cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chấp nhận những rủi ro nhất định và có thể chuyển thành bất lợi cho doanh nghiệp nếu khách hàng không trả. Mặt khác, bán chịu cũng làm tăng nhu cầu vốn lưu động.
(*) Tăng nhu cầu vốn lưu động: là việc mà thay vì cho khách hàng mua chịu, khách hàng có 3 tháng để trả, thì trong 3 tháng đó, DN có thể sử dụng khoản tiền đó để đi đầu tư tài chính hoặc sử dụng vào kinh doanh. Như vậy, ta đã bị mất khoản lãi được sinh ra từ khoản tiền cho mua chịu đó.
Tỷ lệ phần trăm chênh lệch khoản phải thu qua các kỳ nếu đem so với tốc độ tăng trưởng doanh thu thì ta sẽ biết được liệu doanh nghiệp có đang nới lỏng điều kiện bán hàng để thúc đẩy doanh thu trong ngắn hạn hay không. Nếu tỷ lệ này tăng đột biến thì chứng tỏ doanh nghiệp đó đang phải chịu rủi ro rất lớn và do đó cũng là rủi ro của ta khi đầu tư vào công ty này vì khoản mục này tính thanh khoản rất kém.
1.4. Hàng tồn kho (Mã số 140): là một loại tài sản có tính thanh khoản kém hơn so với mục 130, gồm tồn kho nguyên vật liệu và tồn kho thành phẩm.
Một số doanh nghiệp còn có tài sản ký gởi bán, đó là hình thức mà DN đặt sản phẩm của mình ở một đại lý nào đó, khi đại lý đó bán được và báo về thì khi đó DN mới loại trừ ra khoản mục hàng tồn kho. Nói cách khác, khi ký gởi bán thì tài sản đó vẫn nằm trên mục hàng tồn kho của DN.
Hàng tồn kho tăng đột biến ngoài lý do không bán được còn do yếu tố thời vụ: đó là khi DN muốn đón đầu thời cơ, tăng mức trữ hàng để khi giá cao có thể bán ra.
Do đó cần so sánh giữa tốc độ tăng trưởng hàng tồn kho và tốc độ tăng trưởng doanh thu để đánh giá  được mức độ luân chuyển của hàng tồn kho này.
1.5. Tài sản ngắn hạn khác (Mã số 150) 
Các khoản này không tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh nhưng là những yếu tố phụ phải có. Đặc điểm của loại tài sản này thường không lớn, khó bị thu hồi khi bị phá sản.
2. Tài sản dài hạn (Mã số 200)
2.1. Khoản phải thu dài hạn (Mã số 210): khoản này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản do khoản này đến từ khách hàng mà khách hàng thường không nợ >1 năm hoặc >1 chu kỳ kinh doanh. Trừ trường hợp công ty đó có chính sách trả góp dài hạn.
2.2. Tài sản cố định (Mã số 220): là những phương tiện sản xuất kinh doanh chủ yếu có ảnh hưởng đến quyết định tới năng lực sản xuất kinh doanh của DN. Một DN có quy trình công nghệ sản xuất hiện đại, tự động hóa cao có thể giảm bớt chi phí nhân công và chi phí nguyên vật liệu. 
- Tuy nhiên, tài sản cố định cũng có những rủi ro nhất định:
+ Làm tăng mức rủi ro kinh doanh do khấu hao tài sản cố định -> Tăng tổng định phí.
+ Tổng vốn đầu tư lớn rồi mà nếu tài sản không được khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả thì khả năng sinh lời của vốn giảm.
- Tài sản cố định gồm:
+ Tài sản cố định hữu hình (Mã số 221). Vd: máy móc, thiết bị,..
+ Tài sản cố định vô hình (Mã số 227). Vd: bằng phát minh, sáng chế công nghệ kỹ thuật,...
+ Tài sản cố định thuê tài chính (Mã số 224): là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
+ Chi phí xây dựng dở dang (Mã số 230)
2.3. Đầu tư tài chính dài hạn (Mã số 250): phản ánh giá trị của những khoản đầu tư tài chính có thời hạn trên 1 năm (Đầu tư vào công ty con, công ty liên danh, liên kết, đầu tư chứng khoán dài hạn,...). Đây là một hoạt động đầu tư gián tiếp do việc đầu tư này không làm tăng năng lực sản xuất cốt lõi (Vd: Xây nhà máy mới, mua máy móc thiết bị mới,...). Tuy nhiên, hoạt động đầu tư này giúp DN có thể đa dạng hóa hoạt động đầu tư của mình, sử dụng vốn hợp lý hơn vì khi hoạt động đầu tư sang các công ty khác sẽ làm giảm rủi ro cho nguồn vốn DN.
(*) - Đối với đầu tư vào công ty con: khi DN đầu tư vào công ty A, biến A trở thành công ty con thì DN đó phải nắm giữ >51% cổ phần của công ty A (Tỷ lệ sở hữu: > 51%).
- Đầu tư vào công ty liên danh, liên kết: Tỷ lệ sở hữu 20-50%.
Nếu một DN có tỷ lệ đầu tư tài chính dài hạn cao nghĩa rằng DN đó đang sử dụng nguồn vốn để đầu tư ra khỏi lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình quá nhiều. Tại những lĩnh vực đó thì rất có khả năng cao, DN chưa có kinh nghiệm quản lý tốt do lĩnh vực đó không phải ngành nghề chuyên môn của mình -> Quản lý vốn chưa tốt. Điều này rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là các tập đoàn nhà nước.
2.4. Bất động sản đầu tư: giá trị các bất động sản thuộc sở hữu của DN nhưng không sử dụng để kinh doanh mà dùng để cho thuê hoặc bán.

II. Nguồn vốn: 
1. Nợ phải trả (Mã số 300) gồm Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn.
1.1. Nợ ngắn hạn (Mã số 310): là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong vòng 1 năm. Nợ ngắn hạn có các khoản chính sau:
+ Phải trả cho người bán (Mã số 311): Chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng lớn nhất và là đặc thù của yếu tố sản xuất kinh doanh của DN, nó phản ánh số tiền còn phải trả cho người bán có thời hạn thanh toán còn lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm lập báo cáo. Nói cách khác, đây là khoản mua chịu của DN.
+ Phải trả cho người mua trả trước (Mã số 312): phản ánh số tiền người mua ứng trước để mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp cho người mua không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm lập báo cáo. Mục này thường thấy tại các DN đầu tư bất động sản. Đối với một số DN BĐS có uy tín, tỷ trọng mục này thường rất cao.
+ Phải trả cho người lao động (Mã số 314)
+ Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (Mã số 313)
+ Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn (Mã số 320): Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị các khoản doanh nghiệp đi vay, còn nợ các ngân hàng, tổ chức, công ty tài chính và các đối tượng khác có kỳ hạn thanh toán còn lại không quá 12 tháng tại thời điểm báo cáo.
1.2. Nợ dài hạn (Mã số 330): là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả dài hơn 1 năm. Đây là một loại nguồn vốn ổn định. Sự tăng lên của mục này giúp cho tình hình tài chính của DN được ổn định hơn. Tuy nhiên, DN cũng sẽ phải trả lãi suất vay cao hơn so với vay ngắn hạn (chi phí sử dụng vốn cao hơn).

2. Vốn chủ sở hữu (Mã số 410) là nguồn vốn thuộc chủ sở hữu DN, thể hiện tiềm lực tài chính của DN hay nói cách khác, vốn chủ sở hữu thể hiện niềm tin của họ vào triển vọng phát triển và khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của DN. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì càng an toàn đối với các chủ nợ. Ví dụ: Một DN có vốn chủ sở hữu là 1 đồng và chỉ đi vay nợ 0.5 đồng thì đây được xem là an toàn với chủ nợ. Tuy nhiên, nếu DN đó đi vay 3 đồng thì sẽ không là một điểm tựa an toàn chút nào đối với chủ nợ khi cho vay.
Vốn chủ sở hữu bao gồm:
2.1. Vốn góp của chủ sở hữu (Vốn đầu tư/cổ phần) (Mã số 411): là số vốn của chủ đầu tư bỏ ra lúc mới thành lập hoặc bổ sung sau trong quá trình kinh doanh. 
+ Đối với DN không cổ phần, mục này phản ánh vốn thực góp của các chủ sở hữu căn cứ theo vốn điều lệ mà DN đã đăng ký. Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty để công bố cho các cổ đông.
+ Đối với DN cổ phần, nó phản ánh vốn góp trực tiếp của các chủ sở hữu theo mệnh giá cổ phiếu (ở VN, mệnh giá 1 cổ phiếu = 10.000 VND)
2.2. Thặng dư vốn cổ phần (Mã số 412) hay còn gọi là thặng dư vốn trong công ty cổ phần, đây là khoản chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu với giá thực tế phát hành. 
Thặng dư vốn cổ phần = ( Giá phát hành cổ phần – Mệnh giá) x SL cổ phần phát hành 
Ví dụ: Một công ty cổ phần A có vốn cổ phần là 1,2 tỷ -> dự kiến phát hành 120.000 cổ phiếu với giá mỗi cổ phiếu là 10.000 đồng (theo quy định). Khi IPO, vì nhu cầu từ thị trường (cung<cầu) nên công ty A bán được mỗi cổ phiếu với giá là 15.000 đồng. Như vậy, sau khi IPO, công ty A bán hết số cổ phiếu nêu trên và thu được tổng cộng là 1,8 tỷ. Do đó, phần thặng dư vốn cổ phẩn là 0,6 tỷ.
2.3. Cổ phiếu quỹ (Mã số 415) là cổ phiếu do công ty phát hành và được mua lại bởi chính công ty phát hành nhưng công ty đó sẽ không hủy bỏ số cổ phiếu mua đó mà chỉ nắm giữ, đợi đợt phát hành tiếp theo trả cho cổ đông hoặc bán cho thị trường. Công ty sẽ mua cổ phiếu quỹ này khi thấy giá cổ phiếu công ty mình đang ở đáy và đợi khi nó ở đỉnh sẽ bán ra. Nói cách khác, đây chính là hình thức đầu tư vào chính công ty của mình.
2.4. Các quỹ của DN: Các quỹ này được hình thành từ lợi nhuận sau thuế, bao gồm:
+ Quỹ đầu tư phát triển (Mã số 418)
+ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp (Mã số 419)
+ Quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu (Mã số 420)
Mức trích lập lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của DN được xác định tại điều lệ hoạt động của DN.
2.5. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (Mã số 421) là phần lợi nhuận tích lũy hàng năm nhưng chưa phân phối cho cổ đông, quỹ đầu tư.
Khi có lãi thì công ty có thể chia cổ tức cho cổ đông theo tỷ lệ % của mệnh giá. Ví dụ nếu trả cổ tức 10% thì có nghĩa là mỗi cổ phiếu (cho dù đang giao dịch ở bất cứ giá nào) cũng sẽ nhận được 1000 đồng. Ngày chốt quyền nhận cổ tức là trước “ngày giao dịch không hưởng quyền” và được thông báo trước từ khá lâu.
Khi trả cổ tức bằng tiền thì người nhận cổ tức phải chịu thuế thu nhập cá nhân từ phần vốn góp là 5%. Nhưng nếu lưu số tiền lợi nhuận này lại mà không chia thì giá cổ phiếu về lý thuyết sẽ tăng lên một lượng tương ứng làm thỏa mãn các cổ đông và công ty có tiền cho việc kinh doanh. Vì vậy nhiều công ty có thể không trả cổ tức cũng chẳng làm cổ đông bất mãn. Apple giữ một lượng tiền mặt lớn cũng vì đã lâu rồi không chia cổ tức bằng tiền.
DN có thể phát hành thêm cổ phiếu để lấy tiền trả cổ tức. Khi phát hành thêm cổ phiếu có nghĩa rằng cổ phiếu của cổ đông đang nắm giữ sẽ bị giảm giá trị đi một tỷ lệ tương ứng. Như vậy thực ra là chỉ chuyển một phần giá trị từ cổ phần sang tiền mặt chứ cổ đông không lợi lộc gì thêm. Phương pháp này chỉ có lợi ích đối với cổ đông khi công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng nên cần tiền để đầu tư.

C. Một số kiến thức khác liên quan
1. Trả cổ tức bằng cổ phiếu
Ngoài trả cổ tức bằng tiền thì doanh nghiệp có thể trả cổ tức bằng cổ phiếu. Ví dụ như mức trả là 10% có nghĩa rằng nếu bạn giữ 1000 cổ phiếu thì bạn sẽ có thêm 100 cổ phiếu nữa. Hình thức trả này làm tăng vốn điều lệ công ty nhưng làm giảm mục “lợi nhuận sau thuế chưa phân phối” về cơ bản sẽ không có dòng tiền nào chảy vào thực sự giống như việc DN phát hành cổ phiếu ra công chúng.



Đứng ở vị trí là cổ đông sẽ không có thay đổi nhiều, họ chỉ nắm giữ nhiều cổ phần hơn nhưng giá trị quy ra tiền không đổi; giá trị thị trường của cổ phiếu sẽ giảm đi một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ trả. Tuy nhiên, trong một thị trường đang tăng điểm thì giá cổ phiếu thường sẽ tăng trở lại vì vậy cổ đông sẽ được lợi trong dài hạn. Nhưng trong một thị trường đi ngang hoặc đi xuống thì chẳng có lợi lộc gì. Vì vậy trong một thị trường giá giảm thì cổ đông thích nhận cổ tức tiền mặt hơn.

2. Tổng tài sản -Rào cản gia nhập ngành
Để kinh doanh bán quần áo qua mạng bạn chỉ cần số vốn vài triệu tới vài chục triệu, có ít làm ít có nhiều làm nhiều. Tổng tài sản bằng vốn hoặc gấp vài lần vốn nếu bạn có vay tiền. Bất cứ ai cũng có thể gia nhập ngành. Ngày mai nếu chán bạn có thể dừng công việc KD của mình bằng cách ngừng nhập hàng, bán nốt số hàng đang có; rời khỏi ngành với chi phí rất thấp.

Các công ty bất động sản đều có tổng tài sản vài nghìn tỷ trở nên. Đó là rào cản vốn rất lớn mà các doanh nghiệp có máu thì cũng khó mà nhảy vào được. Hãy thử tưởng tượng một doanh nghiệp mua một mảnh đất, xây một cái chung cư, rồi bán. Ít cũng phải mất 2 năm từ lúc có giấy phép tới khi bán được nhà. Trong giai đoạn đó tổng tài sản sẽ nở ra cùng với số tiền đi vay. Mà có DN bất động sản nào chỉ chăm chăm xây một khu chung cư đâu, cùng lúc nó có nhiều dự án ở khắp nơi.

Một DN rất khó gia nhập ngành bởi Tổng tài sản phải duy trì rất lớn. Khi thoát khỏi ngành chi phí cũng rất cao, bao nhiêu mảnh đất, căn nhà, máy móc phải thanh lý.

Trong kinh doanh các doanh nghiệp trường vốn (rủng rỉnh về tài chính) thường đẩy tổng tài sản lên thật cao; một DN muốn tồn tại trong ngành phải duy trì tổng tài sản cao như vậy nếu không nó sẽ không có lãi.

Tổng tài sản lớn có nghĩa rằng quy mô sản xuất lớn dẫn tới tận dụng lợi thế về quy mô. Các DN khi có quy mô không bằng sẽ không tận dụng được lợi thế này dẫn tới lợi nhuận nhận được thấp hơn.

Ví dụ 1: Sản xuất mì tôm
Giả sử Masan sản xuất 1 triệu gói mì một ngày. Mỗi gói chỉ cần lãi 100 đồng là có được lợi nhuận sau thuế 100 triệu đồng.
Một doanh nghiệp sản xuất mỳ khác sản xuất 1000 gói một ngày, để có lợi nhuận tốt hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng nó phải lãi mỗi gói tối thiểu 1000 đồng. Lúc này nó sẽ không cạnh tranh về giá được với Masan.

Ví dụ 2: Kinh doanh qua mạng
Quay lại ví dụ bán quần áo qua mạng của bạn. Đối thủ của bạn một lúc nhập 100 cái áo, tổng tài sản thường duy trì ở mức 1 tỷ. Bạn mỗi lần nhập được 10 cái áo, tổng tài sản duy trì ở mức 100 triệu. Ai có lợi thế hơn nếu như cả hai đều kinh doanh một loại áo như nhau? Đương nhiên là đối thủ của bạn vì với mỗi cái áo cô ý chỉ cần lãi bằng 1/10 của bạn.

Cứ mỗi 1 đồng giảm lợi nhuận của đối thủ thì để giữ nguyên cân bằng bạn phải giảm 10 đồng. Bạn sẽ lỗ phải dừng hoạt động và những người cũng muốn bán hàng sẽ gặp khó khăn hơn để có thể cạnh tranh với lợi nhuận của cô ý. Tất nhiên, một anh A nào đó có thể gia nhập ngành đẩy tổng tài sản lên 100 tỷ, và đến lượt đối thủ của bạn ra đi. Cuộc chơi ngày càng trở nên khó khăn hơn cho những người gia nhập mới.

ROA của VIN là lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản = 1.860 tỷ/193.761 = 1%. Nó có nghĩa rằng cứ 100 đồng tài sản thì VIN thu về 1 đồng lợi nhuận thuần. Nó thể hiện rào cản rất lớn của ngành bất động sản.
(*) ROA (Return on Assets) - Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (hay Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng của tài sản, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của DN.

Xét trên góc độ tích cực, tỷ số này thể hiện khả năng sinh lợi từ tài sản của DN. Một DN có tổng tài sản ít hơn nhưng tỷ lệ cũng 1% thì có nghĩa là nó hoạt động hiệu quả hơn VIN.

Vậy khi xét Tổng tài sản và chỉ số ROA, chúng ta phải xét tới đặc điểm của ngành mà DN đó đang kinh doanh. Có cần thiết phải tận dụng lợi thế về quy mô để ngăn cản đối thủ hay không? Nếu không cần thì tỷ lệ ROA càng cao càng tốt.

Tài liệu tham khảo:
1. Các chỉ tiêu bảng cân đối kế toán - ThS Lê Hoài Ân (CFA), Giảng viên ngành Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Ngân hàng TP. HCM.
2. Kiến thức nguồn vốn - Nguyễn Việt Dũng (chienluocsong.com)

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Minh Tran
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement) là một báo cáo kế toán, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp trong suốt một kỳ kế toán

1. Các vấn đề cơ bản cần được quan tâm:

Vấn đề 1: Doanh thu như thế nào?
Điều này được phản ánh qua mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số 01): Tại mục này, ta xem xét: tốc độ tăng trưởng của doanh thu là ổn định hay biến động lớn qua các năm. Các doanh nghiệp có tốc độ ổn định thường sẽ có mức độ bền vững và hoạt động sản xuất kinh doanh của nó sẽ tốt hơn.

Vấn đề 2: Cấu trúc chi phí của doanh nghiệp như thế nào? Liệu mối quan hệ chi phí và doanh thu có ổn định theo thời gian hay không?


Nếu mối quan hệ giữa chi phí và doanh thu ổn định thì điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng quản lý tốt chi phí, tránh được tình trạng biến động cao của chi phí ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình. Mỗi loại hình doanh nghiệp có một cấu trúc chi phí khác nhau. Trong đó có hai vấn đề ta cần làm rõ là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

+ Chi phí trực tiếp là những chi phí trực tiếp cấu thành nên giá trị thành phẩm, là chi phí nguyên vật liệu, nhân công hoặc điện nước, khấu hao của máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.
+ Chi phí gián tiếp là những chi phí không trực tiếp cấu thành nên giá trị thành phẩm, tuy nhiên những chi phí này phát sinh nhằm giúp cho quá trình tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng hơn. Ví dụ: chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp,...
Cấu trúc chi phí phản ánh đặc thù của các loại hình doanh nghiệp. Có những ngành nghề có lợi nhuận/doanh thu rất cao nhưng cũng có những ngành nghề lợi nhuận/doanh thu rất thấp. Một cửa hàng vàng bạc, đá quý có mức lợi nhuận là 30-40% nhưng đối với một cửa hàng bán lẻ thì mức lợi nhuận chỉ vào khoảng 5-10%

2. Nội dung các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

2.1. Khái quát chung: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thực chất là khoản mục doanh thu của doanh nghiệp trừ đi tất cả các loại chi phí để đến được khoản mục lợi nhuận sau thuế. Doanh thu và chi phí của một công ty có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau. Ta có thể phân loại hoạt động của doanh nghiệp thành ba loại cơ bản: 
+ Từ hoạt động kinh doanh chính: là những khoản doanh thu (+)/chi phí (-) đến từ những hoạt động kinh doanh được ghi rõ trên giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
+ Từ hoạt động tài chính: là những khoản doanh thu (+) đến từ lãi của khoản tiền nhàn rỗi, hay chi phí (-) mà doanh nghiệp phải trả lãi cho ngân hàng khi đi vay, doanh thu (+)/chi phí (-) đến từ khoản chênh lệch phát sinh từ tỷ giá (nếu có)
+ Từ hoạt động khác: là những hoạt động không liên quan đến hai mục trên. Ví dụ: khi một doanh nghiệp thanh lý một số máy móc thiết bị để nâng cấp lên máy móc, thiết bị hiện đại hơn. Thông thường, những hoạt động trong mục này không xảy ra thường xuyên. Đối với góc độ phân tích tài chính, mục này thường được bỏ qua do những hoạt động này có ít khả năng lặp lại trong tương lai.

Sau đây, để dễ dàng cho các bạn hình dung, blog xin trích dẫn báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Thế giới di động năm 2017, được kiểm toán bởi EY.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất của Thế giới di động năm 2017, đã được kiểm toán bởi EY. 
2.2. Các chỉ tiêu
2.2.1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số 01): phản ánh tổng giá trị ban đầu của khối lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán cho khách hàng trong một thời kỳ nhất định. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Doanh thu tăng thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp và là điều kiện cần thiết để gia tăng lợi nhuận hoạt động của công ty. Sự biến động của mục này chịu tác động của hai yếu tố (biến): sản lượng tiêu thụ và đơn giá bán bình quân của sản phẩm đó. Trong hai yếu tố này, việc tăng doanh thu từ sản lượng tốt hơn so với việc tăng doanh thu từ giá cả. Bởi vì, nếu tăng giá thì sẽ tăng lượng khách hàng rời bỏ sản phẩm của doanh nghiệp đó, trong khi, nếu tăng sản lượng thì chứng tỏ quy mô sản xuất của doanh nghiệp đó được mở rộng. Việc gia tăng doanh thu sẽ giúp gia tăng lợi nhuận.

2.2.2. Các khoản giảm trừ doanh thu (Mã số 02): phản ánh các khoản phải ghi giảm trừ vào doanh thu để xác định mức doanh thu thực hưởng của doanh nghiệp. Các khoản giảm trừ này bao gồm:

- Chiết khấu thương mại: số tiền giảm trừ mà doanh nghiệp dùng để ưu đãi khách hàng, nhằm khuyến khích khách hàng mua hàng với một số lượng lớn hơn hoặc vì một lý do đặc biệt nào khác.
- Giảm giá hàng bán: số tiền mà doanh nghiệp giảm giá cho khách hàng do sản phẩm, hàng hóa bị giảm hoặc mất phẩm chất. Đây là những khoản tiền doanh nghiệp chấp nhận cho khách hàng được hưởng ngoài hóa đơn.
- Gía trị hàng bán bị trả lại: trị giá theo giá bán của số sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã bán, đã ghi nhận doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại do hàng giao sai quy cách, phẩm chất kém.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT: số tiền thuế doanh nghiệp đã thu hộ và phải nộp lại cho nhà nước trong kỳ báo cáo
Nếu các khoản giảm trừ có xu hướng gia tăng qua các năm là một tín hiệu tiêu cực.

2.2.3. Doanh thu thuần (Mã số 10) = doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (01) - Các khoản giảm trừ doanh thu (02)


2.2.4. Gía vốn hàng bán (Mã số 11) là toàn bộ những chi phí trực tiếp mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tạo ra khoản doanh thu tương xứng đó. Cụ thể:

- Trong lĩnh vực sản xuất: Gía vốn hàng bán là tổng giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm đã  được tiêu thụ trong kỳ báo cáo. Trong một doanh nghiệp, số lượng sản phẩm đã được tiêu thụ khác số lượng sản phẩm sản xuất. Hai con số này chỉ bằng nhau khi doanh nghiệp không có tồn kho.
- Trong lĩnh vực dịch vụ: Chi phí trực tiếp tạo ra dịch vụ đã cung ứng trong kỳ
- Trong lĩnh vực thương mại: Gía vốn hàng bán phản ánh tổng giá mua và chi phí thu mua của hàng hóa đã bán trong kỳ.
Ta thường lấy tỷ lệ phần trăm giữa giá vốn hàng bán/tổng doanh thu để xem tỷ lệ chi phí trực tiếp trong kỳ đã thay đổi như thế nào so với các kỳ trước. Tỷ lệ này phản ánh khả năng kiểm soát chi phí trực tiếp của doanh nghiệp.

2.2.5. Lợi nhuận gộp (Mã số 20) = Doanh thu thuần (10) - Gía vốn hàng bán (11)

Lợi nhuận gộp phản ánh mức lời của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí trực tiếp.

2.2.6. Doanh thu từ hoạt động tài chính (Mã số 21): các khoản lãi từ hoạt động đầu tư tài chính, lãi cho chênh lệch tỷ giá, lãi tiền gửi, chiết khấu thanh toán được hưởng.


2.2.7. Chi phí hoạt động tài chính (Mã số 22): Chi phí lãi vay, chi phí hoạt động đầu tư tài chính, chiết khấu thanh toán trả cho khách hàng và các khoản lỗ phát sinh từ hoạt động tài chính, lỗ do chênh lệch tỷ giá, các khoản dự phòng giảm giá đầu tư tài chính.


2.2.8. Chi phí bán hàng (Mã số 25) là chi phí liên quan đến việc bán hàng mà doanh nghiệp phải chi ra để bán được hàng. Ví dụ: Chiết khấu cho đại lý, chi hoa hồng cho nhân viên để nhân viên bán hàng, chi phí bóc dỡ hàng hóa,...


2.2.9. Chi phí quản lý doanh nghiệp (Mã số 26) là cho phí mà doanh nghiệp phải trả cho bộ phận quản lý của doanh nghiệp.


2.2.10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (Mã số 30) = Lợi nhuận gộp (20) + [ Doanh thu từ hoạt động tài chính (21) - Chi phí hoạt động tài chính (22)] - [Chi phí bán hàng (24) + Chi phí quản lý doanh nghiệp (25)]

Sự tăng trưởng của mục này so với kỳ trước thể hiện doanh nghiệp đã sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.

2.2.11. Lợi nhuận khác (Mã số 40) là phần lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác với hoạt động thông thường của doanh nghiệp. Ví dụ: nhượng bán; thanh lý tài sản cố định; khoản tiền phạt, bồi thường mà doanh nghiệp được hưởng do đối tác vi phạm hợp đồng; thu hồi các khoản phải thu đã xử lý. Đặc trưng của mục này là không thường xuyên.


2.2.12. Lợi nhuận kế toán trước thuế (Earning before tax - EBT) =  Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (30) + Lợi nhuận khác (40)


2.2.13. Lợi nhuận sau thuế (Earning after tax - EAT) = EBT - thuế (tax)

EAT còn được gọi là lợi nhuận ròng (Net Income).

2.2.14. Lãi cơ bản trên cổ phiếu (Mã số 70)
Lãi cơ bản trên cổ phiếu là khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Nó được thể hiện trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ở mục “Lãi cơ bản trên cổ phiếu”. Ta có thể so sánh mục này giữa các công ty trong cùng ngành để xem công ty làm hiệu quả hơn. Tuy nhiên chúng ta chú ý rằng giá cổ phiếu của mỗi công ty khác nhau; chúng ta mua 20.000đ/cp  của DN có lãi 2000đ còn hơn là mua 30.000đ/cp của DN lãi 2.500 đồng. Chính vì vậy sinh thêm một chỉ số phụ là EPS ( Earning per Stock)

Giá cổ phiểu của DN cũng giống như giá trên thị trường hàng hóa thông thường, giá cân bằng là giá mà nơi cung và cầu bằng nhau. Nếu để thị trường tự điều tiết thì giá của một cổ phiếu luôn phản ánh đúng giá trị thực của DN. Nếu ở đâu có cổ phiếu rẻ thì người ta sẽ đổ xô tới mua làm cho lực cầu tăng lên khiến giá tăng lên. Nếu ở đâu cổ phiếu đắt thì người bán sẽ muốn bán nhiều hơn khiến cho lực cung tăng dẫn tới giá giảm. Do vậy, về dài hạn thì giá phản ánh đúng giá của cổ phiếu.

Tài liệu tham khảo:
1. Các chỉ tiêu báo cáo kết quả kinh doanh - ThS Lê Hoài Ân (CFA), Giảng viên ngành Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Ngân hàng TP. HCM.
2. Kiến thức nguồn vốn - Nguyễn Việt Dũng.